TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    7245564411445.flv 20.jpg 9.jpg 8.jpg 7.jpg 6.jpg 5.jpg 4.jpg 3.jpg 2.jpg 1.jpg M.jpg T.jpg

    Chào mừng quý vị đến với website của Thư viện trường THTHCS Điềm He

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    tôi tự học

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lương Thị Ngân
    Ngày gửi: 10h:15' 07-11-2025
    Dung lượng: 897.2 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    TÔI TỰ HỌC
    Tác giả: Thu Giang Nguyễn Duy Cần
    Chuyển text, soát lỗi: cailubietdi
    Ebook: Cuibap
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Mục lục
    Tựa
    Chương thứ nhất
    Thử tìm một định nghĩa
    Chương thứ hai
    Những yếu tố chính
    Chương thứ ba
    Những điều kiện thuận tiện cho sự tự học
    Chương thứ tư
    Những phương tiện chính yếu
    Chương thứ năm
    Đọc những gì?
    Chương thứ sáu
    Học những gì?
    Chương thứ bảy
    Ba yếu tố chính để xây dựng một nền văn hóa vững vàng
    Chương thứ tám
    Một vài nguyên tắc làm việc

    TỰA

    Tôi còn nhớ một câu chuyện ngụ ngôn Ả Rập rất ngộ nghĩnh sau đây
    do văn sĩ Anatole France thuật lại: Có một nhà vua gọi các bậc trí giả trong
    nước, bảo tìm tòi và mang lại cho ông sự khôn ngoan. Các nhà bác học ấy
    sưu tầm tất cả sách vở hay nhất trong nước để chở đến cho nhà vua. Nhà vua
    đang bận vui chơi trong một yến tiệc nên không có ngày giờ đọc: “Nhiều
    quá! Làm sao đọc hết được? Suốt đời ta cũng không đọc hết. Các người hãy
    tuyển lại trong đống sách ấy những quyển nào hay nhất và cần thiết nhất
    thôi”.
    Các nhà bác học ngày đêm tuyển chọn, còn được một số sách hay nhất,
    bèn đem chở đến nhà vua. Bấy giờ, nhà vua đang mơ màng buồn ngủ, bèn
    bảo: “Vẫn còn nhiều quá! Các khanh cố gắng thêm lên, đọc lại thật kỹ các
    sách này và tóm tắt lại tinh hoa của nó, viết lại thành một quyển sách thôi,
    rồi ta sẽ đọc quyển ấy để thu thập sự hiểu biết của những bậc thông minh
    nhất thế giới từ cổ chí kim, có phải tiện hơn không?”.
    Các nhà bác học uyên thâm nhất cặm cụi cả năm trường mới rút đặng tinh
    hoa vào một bộ sách duy nhất. Lòng mừng khấp khởi, vị cao niên nhất trong
    các nhà thông thái ôm bộ sách quí ấy vào đền. Nhà vua cũng vẫn chê là còn
    dài dòng lắm: “Khanh hãy cố gắng rút tất cả tinh hoa bộ sách này làm thành
    một câu thôi, như thế ta chỉ học lấy câu ấy để biết được tất cả cái biết của
    con người từ xưa đến nay, trong khắp thiên hạ”.
    Nhà thông thái trở về, và sau một tháng trở vào đền, cầm theo câu tư
    tưởng chứa đựng tinh hoa tất cả sự hiểu biết của con người, viết trên một tấm
    lụa ngà: “Con người sinh ra, yếu đuối, trần truồng. Càng ngày càng lớn hơn,
    về sức mạnh cũng như về dục vọng, nhưng lòng tham muốn lại không bao
    giờ thỏa mãn. Rồi tàn tạ, rồi tiêu vong”.
    Nhà vua đang bận sửa soạn ra quân, tỏ vẻ giận dữ nói: “Điều ấy có gì mà
    phải nói. Ta đã biết dư rồi! Các anh toàn là bọn láo cả!”
    ❉❉❉
    Câu chuyện này muốn nói gì thế? Theo Charles Baudoin, trong những ý
    kiến các trí giả xưa nay, ý kiến này của Alain có lẽ là đúng nhất: “Văn hóa là

    điều không thể truyền được mà cũng không thể tóm tắt lại được”.
    Tôi cũng nhìn nhận lối nhận xét trên đây của Alain là đúng. Như thế, sao
    lại còn viết ra quyển Tôi tự học để làm gì?
    Tự học là một nghệ thuật. Là nghệ thuật thì không thể truyền được. Trang
    Tử cũng có câu chuyện ngụ ngôn sau đây, gẫm rất là ý vị: “Hoàn công đọc
    sách ở trên lầu. Có người thợ mộc đang đẽo bánh xe ở nhà dưới, nghe tiếng
    đọc, bỏ tràng, đục, chạy lên thưa với nhà vua:
    - Cả dám hỏi nhà vua học những câu gì thế?
    Hoàn công nói:
    - Ta đọc những câu của Thánh nhân.
    - Thánh nhân hiện còn sống không?
    - Đã chết cả rồi?
    - Thế thì những câu nhà vua đọc chỉ là những cặn bã của cổ nhân đấy
    thôi.
    - À! Anh thợ! Ta đang đọc sách, sao dám được nghị luận. Hễ nói có lý thì
    ta tha, bằng không có lý ta bắt tội.
    Người thợ mộc nói:
    - Tôi xin cứ lấy việc tôi làm mà suy luận. Khi đẽo bánh xe, rộng, hẹp, vừa
    vặn, đúng mực thì thật là tự tâm tôi liệu mà nảy ra tay tôi làm, như đã có
    phép nhất định, chứ miệng tôi không thể nói ra được. Cái khéo ấy, tôi không
    thể dạy được cho con tôi, con tôi không thể học được của tôi. Bởi vậy, năm
    nay tôi đã bảy mươi tuổi rồi mà vẫn giữ nghề đẽo bánh xe. Người xưa đã
    chết thì cái hay của họ khó truyền lại được, tưởng cũng như đã chết cả rồi.
    Thế thì những câu nhà vua học, thực ra chỉ là những cặn bã của người xưa
    mà thôi”.
    Thật có đúng như lời của Alain đã nói:
    “Văn hóa là một cái gì không thể truyền, cũng không thể tóm tắt lại
    được”.
    ❉❉❉
    Văn hóa tuy không thể truyền được cái hay nhưng có thể khêu gợi và
    giúp cho người ta đi đến chỗ hay. Cũng như nguyên tắc dạy vẽ, tuy không
    truyền lại được cái thiên tài của họa sĩ, nhưng cũng giúp cho người người có
    thể có được những lề lối làm việc để thành một nhà họa sĩ chân tài.

    ❉❉❉
    Tác giả là người đã vất vả rất nhiều trong con đường học vấn. Trước đây,
    tác giả là người rất kém về trí nhớ, lại cũng kém cả thông minh và sức khỏe,
    sau khi ra trường cảm thấy mình bơ vơ, ngơ ngác trước con đường học vấn
    mênh mông. Thú thật, ở trường tác giả không học được gì hơn là những ý
    thức thông thường, nhưng không “tiêu hóa” được bao nhiêu. Là vì chương
    trình quá nặng mà thời gian “tiêu hóa” rất ngắn. Cho nên ra trường được vài
    năm thì dường như đã quên gần hết những gì mình đã học. Sở dĩ sau này có
    được chút ít học vấn, dù nông cạn đến đâu, cũng đều nhờ công phu tự học
    cả. Tác giả nhận thấy câu nói này của Gibbon rất đúng: “Mỗi người đều nhận
    được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho; một thứ, quan
    trọng hơn nhiều, do mình tự tạo lấy”. Đó là trường hợp của tác giả. Và, như
    bác sĩ Gustave Le Bon đã nói, tác giả cũng đã “dùng phần thứ hai của đời
    mình để đả phá những ảo vọng, những sai lầm và những nếp suy tưởng hẹp
    hòi lạc hậu mà mình đã hấp thụ được trong khoảng đời thứ nhất” của mình ở
    nhà trường.
    ❉❉❉
    Trước đây, về vấn đề này, tác giả đã có cho xuất bản hai quyển Óc sáng
    suốt và Thuật tư tưởng. Quyển Tôi tự học này chỉ để bổ túc hai quyển trước
    mà thôi. Bởi vậy, nếu bạn đọc nhận thấy rằng đề cập đến vấn đề học hỏi mà
    bỏ qua vấn đề luyện trí nhớ, tập quan sát, luyện giác quan, cũng như phương
    pháp suy luận là một điều thiếu sót lớn, thì xin các bạn nên biết cho rằng
    những vấn đề ấy đã được bàn rất rộng trong hai quyển đã kể trên. Lắm khi
    cũng có một vài vấn đề đem ra bàn lại, dĩ nhiên là với nhiều tài liệu phong
    phú hơn, được bàn rộng về nhiều khía cạnh hơn.
    Đây là một mớ nguyên tắc, không phải chỉ tự mình tìm ra, mà phần nhiều
    là của những bậc tiền bối cổ kim, đã giúp ích tác giả rất nhiều trong con
    đường học vấn. Những kinh nghiệm của tác giả trong thời gian tự học
    thường chỉ dùng để bàn rộng và bình phẩm những nguyên tắc do các bậc đàn
    anh chỉ dẫn. Dĩ nhiên là khi biên chép lại, tác giả nhìn nhận rằng nó đã giúp
    được rất nhiều cho mình, và như thế cũng có nghĩa là rất có thể nó sẽ không
    giúp ích gì cho những ai khác có những thiên tư cùng năng khiếu khác mình.
    Vì vậy mới có tên làm tựa sách là Tôi tự học mà không dám đề là Tự học

    suông, như các sách cùng loại đã xuất bản. Như vậy, những thiếu sót, hoặc
    vụng về, hoặc sai lạc đều là do những kinh nghiệm còn nhiều bỡ ngỡ của tác
    giả. Seignobos, Désiré Roustan, Marcel Prévost, Jean Guitton, Jules Payot,
    Gustave Rudler, là những học giả mà tác giả đã chịu nhiều ảnh hưởng nhất,
    không phải về tư tưởng mà về phương pháp tự học.
    ❉❉❉
    Học là để cho đầu óc và tâm hồn càng ngày càng cao hơn, rộng hơn. Có
    cao, có rộng thì mới tránh được cái nạn “thiên kiến”, “chấp nhất” của những
    đầu óc hẹp hòi. “Óc hẹp hòi”, theo Charles Baudoin, “là những đầu óc không
    thưởng thức nổi những gì mình không ưa thích”. Ông lại nói: “Từ sự không
    có văn hóa đến lòng thiên chấp, chỉ có một bước mà thôi” (De l'inculture à
    l'intolérance, il n'y a qu'un pas). Thật có như vậy.
    Người có văn hóa cao là người mà tâm hồn thật cao rộng, dung nạp được
    tất cả mọi ý kiến dị đồng, không có những thành kiến hay tư tưởng một
    chiều, bao giờ cũng nhìn thấy tất cả mọi bề mặt và bề trái của sự đời. Bởi
    vậy, muốn có được một tâm hồn cao rộng ít ra phải có một nền học thức
    rộng đủ mọi mặt, kiêm cả đông tây, kim cổ. Kẻ nào tin tưởng một cách quả
    quyết rằng chỉ có mình nắm được chân lý tuyệt đối là kẻ không thể có lòng
    khoan dung rộng rãi. Nhất là không thể là một nhà tâm lý sâu sắc được.
    Học rộng sẽ giúp ta đi từ “tuyệt đối luận” qua “tương đối luận”, biết vượt
    lên trên những lập trường eo hẹp hạn định của một hệ thống tư tưởng hợp
    với mình để thông cảm với những hệ thống tư tưởng khác không hợp với
    lòng ưa thích của mình. Người học thức rộng là người biết thưởng thức tất cả
    mọi hình thức văn hóa bất luận đông tây hay kim cổ.
    Đầu óc hẹp hòi, hay suy nghĩ có một chiều, nên dễ sinh ra cuồng tín.
    Cuồng tín là tai họa ghê gớm nhất của thời đại, bất cứ là thời đại nào. Trừ
    bớt nó được chút nào, may ra chỉ có văn hóa. Như vậy, phải chăng văn hóa
    là phương tiện tranh đấu duy nhất để đem lại tình thương và hòa bình cho
    nhân loại? Đó là mục tiêu cao nhất của văn hóa: Làm cho con người hoàn
    thành sứ mạng của con người.
    Thu Giang Nguyễn Duy Cần
    Sài thành 22 tháng 5 năm 1960

    CHƯƠNG THỨ NHẤT
    Thử Tìm Một Định Nghĩa
    A. Thế nào là người học thức?

    Lễ Ký có nói: “Ngọc bất trác, bất thành khí; nhân bất học, bất tri lý”.
    Có người dịch như vầy: “Ngọc chẳng mài, chẳng ra chi. Người mà chẳng
    học, trí tri đâu tường...”.
    Nhưng thế nào là “người có học”?
    Có kẻ đậu năm ba bằng, có người đậu cử nhân, tiến sĩ thế mà cũng còn bị
    người ta mắng cho là đồ “vô học”. Như thế thì “người có học” là người như
    thế nào? Chắc chắn, nó phải có một định nghĩa rõ ràng, nhưng thường được
    hiểu ngầm hơn là nói trắng ra.
    Tôi có quen nhiều bạn đậu kỹ sư điện, thế mà trong nhà có máy điện nào
    hư, phải đi tìm những anh thợ máy điện đến sửa. Nếu ta bảo họ giảng nghĩa
    về điện học, thì phải biết, họ sẽ làm cho ta điếc óc. Tôi có biết nhiều ông
    giáo sư ở trường sư phạm ra, thế mà trong khi dạy học, họ không biết áp
    dụng một nguyên tắc sư phạm nào cả; học trò vẫn than phiền là giờ dạy của
    họ buồn ngủ muốn chết, không hiểu được gì cả. Rồi họ còn bảo: “Học trò mà
    học dở, không phải lỗi tại thầy”. Tôi cũng thấy vài ông đậu bằng tiến sĩ hay
    thạc sĩ triết học, thế mà cách ăn ở với đời vụng dại như một người ngu,
    không hiểu chút gì về tâm lý của con người cả.
    Ai ai, nếu để ý quan sát, cũng sẽ nhận thấy như tôi. Sự tình ấy không phải
    lỗi gì nơi những người ấy, họ là nạn nhân của chế độ nhà trường ngày nay,
    mà tôi sẽ bàn đến ở một nơi khác. Tôi chỉ muốn nói, những người có những
    bằng cấp trên đây, họ có hơn gì kẻ vô học không? Nếu có hơn là họ hơn về
    lý thuyết nhưng về phần thực tế, họ đâu có hơn gì một con vẹt. Nói cho đúng
    hơn, họ chỉ có “học” mà không có “hành”. Học là để biết. Biết, mà không
    thực hành được, cũng chưa gọi là “biết”. Tri và hành cần phải hợp nhất mới
    được gọi là người “có học thức”.
    Người xưa có ví: “Con chiên ăn cỏ, đâu phải để mà nhả cỏ, mà là để biến
    thành những bộ lông mướt đẹp. Con tằm ăn dâu, đâu phải để mà nhả dâu, mà

    là để nhả tơ”. Học mà không “tiêu hóa”, có khác nào con chim nhả cỏ, con
    tằm nhả dâu. Người ta rồi cũng chẳng khác nào cái máy thu thanh, chỉ lặp lại
    những gì kẻ khác đã nói. Học như thế, không có lợi ích gì cho mình mà còn
    hạ phẩm cách của con người ngang hàng với máy móc. Georges Duhamel có
    nói: “Đừng sợ máy móc của bên ngoài, hãy sợ máy móc của cõi lòng”. Một
    xã hội mà con người chỉ còn là một bộ máy thì sứ mạng của văn hóa đã đến
    ngày cùng tận rồi, mà tinh thần loài người rồi cũng đến lúc diệt vong: có xác
    mà không hồn. Học mà đưa con người đến tình trạng ấy, tôi tưởng thà đừng
    học có hơn không? Cái hiểm trạng của xã hội ngày nay phải chăng một phần
    nào đều do những bộ óc “học thức nửa mùa” ấy gây nên?
    Thế thì, “học” và “học thức” không thể lầm lẫn với nhau được. Ta cần
    phải để ý phân biệt hai lẽ ấy.
    Thật vậy, có những sự hiểu biết chỉ “bám” ngoài da mà không thể “ăn
    sâu” vào tâm khảm của ta. Nó là một nước sơn bóng nhoáng và chỉ là một
    lớp sơn thôi. Cái học của ta không ảnh hưởng gì đến tâm hồn ta cả. Trái lại,
    cũng có nhiều thứ hiểu biết liên lạc với ký ức ta, với tư tưởng ta, với tình
    cảm dục vọng ta, nó hòa hợp với con người tinh thần của ta không khác nào
    khí huyết tinh tủy đối với thân thể của ta vậy. Giữa những sự hiểu biết ấy và
    ta, có một thứ tác động và phản động, xung đột nhau, hòa hợp nhau để thay
    đổi nhau và thay đổi luôn cả con người của ta nữa.
    Tôi muốn nói: giữa ta và những điều ta học hỏi phải có một sự “tiêu hóa”,
    hay nói theo Kinh Dịch, phải có một việc thần hóa (thần nhi hóa chi) mới
    được.
    Vậy, ta phải dành chữ “học thức” cho những bộ óc thông minh biết đồng
    hóa với những điều mình đã học. Như thế thì, học nhiều và học thức không
    giống nhau.
    Phần đông chúng ta thường nhận lầm việc ấy. Chúng ta thường đánh giá
    con người theo bằng cấp của họ, những bằng cấp ấy phần nhiều là những
    bằng cấp trí nhớ: kẻ nào nhớ giỏi thì thi đậu. Sự nhận xét sai lầm này gây
    không biết bao tai họa cho loài người hiện thời.
    Tóm lại, người học thức không phải cần biết thật nhiều, mà cần phải thật
    biết những gì mình đã biết.
    “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã” - Biết, thì biết là mình biết,

    không biết thì biết là mình không biết, ấy mới thật là biết. Học thức là một
    vấn đề thuộc “phẩm”, chứ không phải thuộc “lượng”.
    Cái học mà đã được đồng hóa rồi thì không còn nói là cái học bên ngoài
    nữa. Cỏ mà bị chiên ăn rồi, không còn là cỏ nữa. Dâu mà bị tằm ăn, không
    còn gọi là dâu nữa.
    Học cũng như ăn.
    ❉❉❉
    B. Học để làm gì?
    Học để làm gì? Và tại sao ta phải học?
    Ta phải quan sát chung quanh ta, ta sẽ thấy có hai hạng người: học vì tư
    lợi, và học không vì tư lợi gì cả, nghĩa là học để mà học, học theo sở thích
    của mình.
    Hạng học vì tư lợi, chiếm một phần rất đông. Họ học một nghệ thuật nào,
    một khoa học nào, một nghề nghiệp nào là để tìm một kế sinh nhai. Cái ý
    muốn thiết thực này cũng là cái ý muốn chính của các bậc làm cha mẹ khi
    tìm thầy cho con, hay khi gởi chúng đến trường. Mà chính các học sinh, đa
    số cũng chỉ có một mục đích ấy: nắm lấy bằng cấp để tìm lấy một con đường
    sinh kế.
    Thật ra, cũng có nhiều kẻ, đối với nghề nghiệp sau này của mình cảm
    thấy thích thú lắm. Cũng có thể rất sung sướng khi nghĩ đến sau này sẽ được
    làm kỹ sư, giáo sư, nghệ sĩ hay sĩ quan... Nhưng, cái ý nghĩ nhờ đó để kiếm
    địa vị, tiền bạc, danh vọng, quyền tước... cũng đủ làm cho tâm hồn mình mất
    cả cái sung sướng tinh khiết của cái học vô tư lợi. Cái mộng của tuổi trẻ qua
    rồi, tôi thường thấy có nhiều bậc phụ huynh không muốn cho con em mình
    sau này đeo đuổi theo nghề nghiệp của mình. Học để tìm một nghề nghiệp
    làm kế sinh nhai, có cái lợi ích của nó, không một ai có thể chối cãi được;
    nhưng dầu thích hay không thích, nó chỉ là một cái học để thành công, một
    cái học vị lợi, mà đối với những người có đầu óc thiết thực, ít lý tưởng, cho
    là thỏa mãn lắm rồi!
    Bên những nhà “tập sự” vị lợi ấy, chúng ta cũng thấy có nhiều kẻ, ngay
    buổi còn thơ, nhất là lúc mà trí thức đương chừng nẩy nở, họ ham học mà
    không có một ý nghĩ gì vụ lợi cả: không phải để kiếm tiền, không phải để
    tìm địa vị, cũng không phải để tìm danh vọng. Chiều theo ý của cha mẹ,

    hoặc vì hoàn cảnh bắt buộc mà phải chọn một nghề nào, kỳ thực họ không
    để chút tâm hồn nào nơi ấy cả. Họ là một công chức sở hối đoái mà họ mê
    say thi phú hay âm nhạc. Họ là một sĩ quan mà họ mê say lịch sử hay văn
    chương. Họ là một trạng sư mà họ mê say toán học. Có kẻ, ngoài giờ phải lo
    lắng dồi mài nghề nghiệp của mình để kiếm ăn, cũng ráng dành một vài giờ
    để thỏa mãn tính tò mò của mình, học những môn không lợi ích gì cho cái
    đời vật chất của mình cả, khi thì đọc triết học, khi thì đọc sách nghiên cứu về
    văn chương, lắm khi tập tễnh cầm bút viết văn hay hội họa.
    Đấy cũng là một cách học, một cái học hoàn toàn không chút gì vị lợi.
    Những kẻ học như thế, họ học văn chương vì văn chương, học nghệ thuật vì
    nghệ thuật, học khoa học vì khoa học.
    Hai hạng người trên đây, ai có lý? Ai vô lý? Thật cũng khó mà trả lời. Cái
    thích của người này chưa chắc cũng là cái thích của người kia.
    Lại còn có người họ thích không học gì cả, thì sao? Họ sẽ nói: “Đời người
    ngắn ngủi, học cùng không học thì có khác nhau gì. Anh thích khoa học, tạo
    hóa ban cho anh nhiều năng khiếu, thì anh thành nhà bác học giúp đời, còn
    tôi, không có năng khiếu gì cả, cố mà nhồi vào sọ những cái học hỏi của kẻ
    khác, cố mà sản xuất những tác phẩm không hơn gì những bài làm của học
    sinh... thì phỏng có lợi ích gì! Ta hãy cứ tìm lấy những hạnh phúc rẻ tiền
    không cần dụng công nhọc sức chi cả có hơn không? Anh đọc Truyện Kiều,
    anh biết thích; tôi, tôi đọc Lục Vân Tiên, tôi cũng biết thích vậy. Anh, anh
    thích nhạc tân kỳ, anh thích nhạc Âu Mỹ. Tôi, tôi nghe vọng cổ, tôi xem hát
    bội, tôi cũng biết thích vậy. Anh đọc tiểu thuyết của Âu Mỹ, anh biết hay;
    còn tôi, tôi đọc tiểu thuyết kiếm hiệp của Phú Đức [1], tôi cũng biết mê say...
    Vậy, cũng chưa chắc cái sướng của anh hơn cái sướng của tôi”.
    Ta phải trả lời với họ cách nào?
    Đã không thiếu gì những quyển luân lý tân cựu trả lời với họ rất hùng
    hồn. Nhưng theo tôi, mặc dầu có rất nhiều bài văn mà tài hùng biện của tác
    giả không thể chối cãi được, tôi thấy cũng chưa đủ sức cảm hóa hạng người
    trên đây.
    Ta hãy can đảm nhìn ngay sự thật; có nhiều kẻ họ sống hết sức hạnh phúc
    trong sự ngu dốt và ở không của họ. Họ ghét đọc sách, họ ghét suy nghĩ, họ
    ghét làm việc bằng tinh thần cũng như họ ghét gông cùm tù tội vậy: một vấn

    đề hoàn toàn thuộc về bản chất.
    Goethe, lúc mà danh vọng của ông lên đến tột độ, ngày kia dạo trên bờ
    sông thành Naples gặp một tên ăn mày nằm ngủ phơi mình trong ánh nắng.
    Ông dừng chân, tự hỏi: “Ta và anh ăn mày này, ai hạnh phúc hơn ai?”. Thật
    cũng khó mà trả lời cho dứt khoát. Tuy nhiên, tôi chắc chắn, các bạn cũng
    như tôi, chúng ta thích sống trong hạnh phúc của Goethe hơn. André Gide
    cũng nói: “Một cái hạnh phúc mà vô tâm, tôi không chịu sống trong hạnh
    phúc ấy”.
    Nếu bạn là người theo phái “ăn rồi nằm ngửa nằm nghiêng, có ai mướn
    tớ, thời khiêng tớ về...” nghĩa là theo phái thích “ăn không ngồi rồi”, “tối
    thiểu nỗ lực” và cho đó là hạnh phúc nhất đời, xin mời bạn hãy để quyển
    sách này xuống. Nó không phải viết cho bạn.
    Thú thật, tôi không đủ tài để thuyết phục bạn. Sách này viết ra cho những
    ai cùng một ý kiến với tôi, cho rằng hạnh phúc của Goethe hơn hạnh phúc
    của anh ăn mày, hay nói cho đúng hơn, Goethe cao trọng hơn anh ăn mày.
    Theo tôi, hạnh phúc là được làm chủ hành động ta, tư tưởng ta, tình cảm
    ta... và mỗi ngày mỗi làm cho con người của ta thêm sáng suốt hơn, thêm tự
    do hơn, thêm to rộng hơn... nghĩa là thêm mới mẻ hơn. “Cẩu nhật tân, nhật
    nhật tân, hựu nhật tân” - Mỗi ngày một mới, và ngày càng mới mãi. Đấy là
    lời khắc trên bồn tắm của vua Thành Thang ngày xưa. Và cũng chính là lý
    tưởng của Pasteur: “Cao lên, cao hơn lên, và cao lên mãi”.
    Như thế, ta thấy rõ mục đích của sự học là gì rồi. Học, là để mưu hạnh
    phúc, nghĩa là để làm cho mình càng ngày càng mới, càng ngày càng cao,
    càng ngày càng rộng... Học, là tăng gia sự hiểu biết của mình, là mở rộng
    tâm hồn của mình bằng cách thu nhận sự hiểu biết cùng những kinh nghiệm
    của kẻ khác làm của mình. Có khác nào một đứa trẻ mới sinh, cân không đầy
    hai ba ký. Thế mà nhờ đâu càng ngày càng lớn đến năm sáu chục ký trong
    khoảng vài mươi năm sau? Phải chăng nhờ rút lấy những vật liệu chung
    quanh: không khí, món ăn, món uống... mà tiến từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến
    mạnh, nghĩa là càng ngày càng mới, càng ngày càng cao, càng ngày càng
    lớn. Bởi vậy, trước đây tôi có nói: “Học cũng như ăn”.
    Ăn mà không tiêu thì có hại cho sức khỏe. Học mà không hóa thì có hại
    cho tinh thần. Cỏ của con chiên ăn mà được tiêu, không còn gọi là cỏ nữa,

    mà là bộ lông mướt đẹp của nó. Dâu của con tằm ăn mà được tiêu, không
    còn là dâu nữa, mà là sợi tơ mịn màng tươi tốt của nó. Người có học thức là
    người đã thần hóa những cái học của mình. Bởi vậy, người có học thức là
    người dường như không biết gì cả, mà không có cái gì là không biết.
    Học mà đến mực dường như quên hết cả sách vở của mình đã học thì cái
    học ấy mới thật là “nhập diệu”. Herriot nói: “Học thức là cái gì còn lại khi
    mình đã quên tất cả”.
    Một nhà tâm lý học có nói: “Quên là điều kiện cần thiết của cái nhớ”.
    Thật là chí lý. Một điều gì học mà mình còn cố nhớ, là nó chưa được nhập
    vào tâm. Chỉ khi nào mình không cần nhớ mà nó vẫn tự nhiên hiển hiện
    trong tâm trí mình thì môn học ấy mới được gọi là đã được tiêu hóa. Người
    học đánh máy chữ mà còn để ý tìm từng nút chữ, cố nhớ vị trí của mỗi nút
    chữ là người đánh máy chưa tinh. Người học đi xe máy mà còn nhớ mình
    còn ngồi trên xe máy, còn để ý đến bàn đạp, cách đạp... là người đi xe máy
    chưa tinh. Tôi nhớ lúc còn học thi, gần đến ngày thi, tôi băn khoăn nói với
    cha tôi: “Sao con học nhiều quá mà nay dường như con không nhớ gì cả.
    Lòng con như quên hết, không biết có nhớ được gì không? Con sợ quá!” Cha
    tôi cười bảo: “Đấy là con đã học “mùi” rồi. Quên, tức là nhớ nhiều rồi đó.
    Con hãy yên tâm...” Thật đúng như lời. Ngày thi, giám khảo hỏi đâu tôi trả
    lời liền đó, một cách dễ dàng hết sức.
    Trang Tử nói: “Người bắn cung mà còn để ý đến việc bắn cung của mình
    là người bắn chưa tinh. Kẻ lội mà còn để ý đến cái lội của mình là người lội
    chưa giỏi. Phải biết quên thị phi đi, thì cái tâm mình mới thông suốt được cái
    lẽ thị phi.” (Tri vong thị phi, tâm chi thích dã). Hiểu được câu nói này của
    Trang Tử là hiểu được cái diệu pháp của phép học rồi vậy.
    ❉❉❉
    C. Thế nào là bậc thiên tài?
    Nói đến những bậc thiên tài, nhiều người đã tưởng tượng họ như những
    kẻ phi thường, cô phong độc tú, xa hẳn với loài người. Thực ra cũng không
    có gì lạ giữa họ và chúng ta cho lắm, có nhiều kẻ còn tệ hơn chúng ta nhiều
    về vấn đề thể chất lẫn tinh thần nữa. Họ chỉ khác ta có một điều thôi: họ có
    một đức tin vững vàng về phương pháp làm việc của họ. Họ tin rằng với sự
    cần cù nhẫn nại và cách làm việc có phương pháp, họ sẽ đạt được ý muốn

    cao xa của họ. Theo họ, “thiên tài chỉ là một sự nhẫn nại bền bỉ lâu ngày” mà
    thôi.
    Darwin, tác giả bộ “Vạn vật nguyên lai luận”, người đã gây được một
    cuộc cách mạng to tát trong khoa học là một người có một trí nhớ rất tồi tệ,
    một sức khỏe rất bạc nhược.
    Spinoza đau bệnh phổi, chết vào khoảng 45 tuổi.
    Pascal thì đau mãi và mất sớm năm 39 tuổi.
    Montaigne cứ than vãn mãi về trí nhớ thậm tệ của ông cũng như về trí
    não “chậm chạp và tăm tối” của ông, còn Herbert Spencer thì không thể nào
    làm việc trong một giờ mà không đau. Có ai dám bảo rằng những người nói
    trên đây không phải là những bậc vĩ nhân trong nhân loại? Sự nghiệp tinh
    thần của họ đều là những kỳ công bất hủ, những tinh hoa của nhân loại. Thế
    mà vấn đề thể chất họ còn thua ta xa, còn về vấn đề ti
     
    Gửi ý kiến