TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    7245564411445.flv 20.jpg 9.jpg 8.jpg 7.jpg 6.jpg 5.jpg 4.jpg 3.jpg 2.jpg 1.jpg M.jpg T.jpg

    Chào mừng quý vị đến với website của Thư viện trường THTHCS Điềm He

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Mot đoi thuong thuyet

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lương Thị Ngân
    Ngày gửi: 10h:04' 07-11-2025
    Dung lượng: 2.0 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    ebook©vctvegroup
    24-05-2018

    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Mục lục
    Lời mở đầu
    Chương 1: Thằng Bờm và Phú Ông: hai tay cao thủ
    Chương 2: Trời phú hay học tập?
    Chương 3: Tâm lý chiến
    Chương 4: Chuẩn bị cho một cuộc thương thuyết
    Chương 5: Bản đồ kịch sĩ
    Chương 6: Người trung gian
    Chương 7: Ngân hàng, chỗ nương tựa kín đáo
    Chương 8: Luật pháp và luật sư, bạn của chúng ta?
    Chương 9: Chủ quan và khách quan trong ngôn ngữ thương thuyết
    Chương 10: Sáp nhập và mua bán công ty
    Chương 11: Giao thiệp và đàm phán với người nước ngoài
    Chương 12: Những nguyên tắc của người thương thuyết và cuộc
    thương thuyết
    Chương 13: Những trường hợp thương thảo thất bại
    Chương 14: Trong rừng sâu của thương thuyết
    Chương 15: Những bất ngờ “ngộ nghĩnh” trên lộ trình
    Chương 16: Nói chuyện về nghề nghiệp, chức vụ và lương bổng
    Chương 17: Đạo lý và phúc lành

    Tạ ơn Cha Phan Văn Tạo và Mẹ Vũ Thị Quý.
    Tặng Vợ Vũ Mộng Lan,
    Con gái Phan Vân Lan và chồng Philippe Phan Văn Hổ,
    Con gái Phan Vân Đào và chồng Laurent Nguyễn An Minh,
    Các cháu ngoại Phan Mỹ Lan, Phan Ái Linh, Nguyễn Anh Đào,
    Nguyễn Minh Quang và Nguyễn Minh Trị.
    * * *
    Suốt thời gian viết sách này, tôi đã dành những ý nghĩ đẹp nhất cho
    người vợ Vũ Mộng Lan, hai con gái Phan Vân Lan và Phan Vân Đào,
    hai con rể cùng các cháu ngoại. Tôi muốn gửi tất cả lòng biết ơn đến
    ba người phụ nữ gần tôi nhất và tôi thương yêu, vì đã luôn luôn ủng
    hộ tôi suốt những năm tôi vất vả với nghề nghiệp. Và nhất là vì đã
    tha thứ cho sự vắng mặt thường xuyên của người chồng và người
    cha trong suốt ba thập niên.
    * * *
    Tôi xin đặc biệt cảm ơn các em Tuệ An, Nguyễn Việt Trung và Phạm
    Thị Thùy Linh đã giúp tôi đắc lực trong việc thực hiện cuốn sách
    này.
    • PHAN VĂN TRƯỜNG

    “Cuốn sách Một đời thương thuyết được Anh Phan Văn
    Trường dành rất nhiều tình cảm và tâm huyết để viết nên, chắt
    lọc lại những gì tinh túy nhất cùng không ít bài học đắt giá để
    đánh đổi lấy kinh nghiệm quý báu trong cuộc đời làm nhà kinh
    doanh của mình, trên nhiều cương vị cấp cao khác nhau tại rất
    nhiều tập đoàn danh tiếng hàng đầu thế giới. Cuốn sách có giá
    trị hết sức to lớn không chỉ đối với Quỹ Lê Mộng Đào[1], mà còn
    đem lại giá trị thiết thực cho bản thân tôi, cho mỗi người lãnh
    đạo, cho mỗi cán bộ, nhân viên của Công ty Hòa Bình. Tôi cũng
    mong rằng cuốn sách này sẽ trở thành một cẩm nang thật sự
    hữu ích trong hành trang sự nghiệp của những người có lòng
    đam mê kinh doanh và mong muốn trở thành nhà thương
    thuyết tài ba.”
    • Ông Lê Viết Hải, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám
    đốc, Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hòa Bình.

    Lời mở đầu
    Trong gần 40 năm nghề nghiệp, tôi như chịu một nghiệp
    duyên thật nặng trĩu. Từ tháng đầu tiên làm việc với tư cách
    một kỹ sư trẻ tuổi đến ngày cuối trước khi nghỉ hưu, tôi không
    ngớt bôn ba khắp năm châu, ngủ khách sạn, làm việc trong
    hành lang hoặc văn phòng khắp nơi. Đến lúc đó, có lẽ không
    một phi trường nào trên thế giới mà tôi chưa tới, không một
    loại phi cơ nào tôi chưa bay. Từng đến công tác ở hơn 80 quốc
    gia, thương thuyết hợp đồng tại 30 thủ đô, tổng giá trị các hợp
    đồng tôi thương thuyết hơn 60 tỷ đôla. Tôi đã làm việc với đủ
    loại khách hàng và đối tác, thuộc đủ mọi văn hóa, chủng tộc,
    ngôn ngữ, và kinh qua đủ mọi hoàn cảnh, mọi rủi ro. Thất bại
    tôi gặp nhiều, thành công cũng không ít. Số lần vấp ngã không
    kể hết, mà vinh hạnh cũng không nhớ xuể.
    Cũng từ nhiều năm, tôi nhận được sự khuyến khích của đồng
    nghiệp và bạn bè để viết về thương thuyết và kể lại những mẩu
    chuyện đã qua. Vốn không theo nghiệp văn chương, lại sống xa
    quê hương nhiều năm, tôi vẫn thường e rằng mình không đủ
    chữ nghĩa để diễn tả hết những tình huống của các cuộc thương
    thuyết. Thường những buổi này gay go, éo le, rắc rối, phức tạp
    và nhiều khi còn không đầu không đuôi, nên đòi hỏi một cây
    bút vững chắc để diễn tả. Tôi lại càng lưỡng lự hơn khi thấy
    trong các nhà sách đã có rất nhiều sách về thương thuyết rồi,
    thậm chí có cả nhiều môn khác như quản lý dự án, quản trị
    công ty… Thế nên tôi thiển nghĩ viết thêm sách chắc cũng
    chẳng thêm bổ ích.

    Tuy nhiên, tôi cũng tò mò xem bên trong những cuốn sách
    được trưng bày có những nội dung gì, và thấy hầu hết những
    sách chuyên môn đều mang tính giáo khoa: khuyên phải tập ăn,
    tập nói, tập nghe, tập hấp thụ, tập phân tích rồi đúc kết; phải
    tâm lý ra sao, giải bày thế nào; phải lễ độ theo phong tục nào
    khi thăm và đàm phán tại các nước khác… Và tôi có cảm tưởng
    mình đang đọc cái gì rất xa lạ, không dựa mấy vào kinh nghiệm,
    trong khi 40 năm nghề nghiệp, gặp gỡ hàng trăm phái đoàn mọi
    xứ, bàn bạc về đủ loại dự án đã để lại cho tôi những kỷ niệm
    khác hẳn với những cuốn sách mà tôi hiếu kỳ xem qua. Thậm
    chí có sách còn xem ngành thương thảo như một “khoa học”
    chứ không phải một “kỹ năng”, hay hơn thế nữa, một “nghệ
    thuật”.
    Thế rồi còn có những tình huống các sách nói trên không đả
    động gì tới. Ví dụ như không tả nỗi khó khăn trong những cuộc
    thương thuyết nội bộ trước khi đi thương thuyết bên ngoài; hay
    những buổi thương thảo với chính nhân sự mình gửi đi, dàn
    xếp chức tước, quyền hạn của họ; rồi nếu kết quả tốt thì thưởng
    phạt ra sao. Có người thậm chí còn đòi vợ con được đi tháp
    tùng, lấy lý do cuộc thương thuyết sẽ chắc chắn kéo dài nhiều
    tháng, nhiều năm. Theo kinh nghiệm của tôi, thương thuyết
    nội bộ quan trọng không kém thương thuyết bên ngoài, vì nội
    bộ có đoàn kết và nhất quán thì đại biểu mình gửi đi mới làm
    được việc!
    Thêm vào đó, sách tại Việt Nam nói rất ít về những vấn đề
    phải đặt ra khi mình ngồi trước người nước ngoài, không
    những mình không quen biết từ trước, mà còn hoàn toàn xa lạ
    về văn hóa, tập quán và cũng có khi là ngôn ngữ nếu cả hai
    không nói chung được một thứ tiếng. Nước ta, cũng như tất cả
    các nước đã hội nhập sẽ phải giao lưu hàng ngày với người nước

    ngoài, không thể bỏ qua mục này trong sách.
    Lại cũng cần nói thêm là tại rất nhiều quốc gia, phong tục
    thương thuyết còn đi đôi với tham nhũng. Thật đáng tiếc xã hội
    có những căn bệnh như thế. Nhưng nếu không nhắc về điều
    này, ít nhất là phớt qua, thì thật sự sách sẽ không làm tròn
    nhiệm vụ, vì đơn giản tại những quốc gia nói trên, nếu không
    có cử chỉ gì giúp cho khách hàng “hài lòng” thì thương thuyết
    đến mấy cũng sẽ không bao giờ đi tới đích.
    Ngoài ra, trong các cuộc đàm phán ngày nay, nhất là khi bàn
    về những dự án kỹ thuật như hạ tầng cơ sở, không bao giờ đại
    biểu đi một mình, lúc nào cũng có sự hỗ trợ của ngân hàng, của
    luật sư, của nhà tư vấn. Tôi từng dẫn phái đoàn 200 chuyên
    viên, trong đó có đến 5 ngân hàng và 3 văn phòng luật sư tháp
    tùng. Những người này có bổn phận phải giữ thế đứng vô tư dù
    họ làm việc cho một phe, bạn hay nghịch cũng như nhau. Do đó
    việc tìm cách uốn nắn và chi phối họ theo ý của thân chủ không
    phải dễ, và không phải ai cũng nắm vững nghệ thuật bàn biện
    này.
    Việc thương thảo lại rất thường dùng tiếng Anh, Pháp hay
    Đức, hoặc Nhật, mà hễ nhắc đến ngoại ngữ không thể quên văn
    hóa kèm theo… Đó là chưa kể người đại biểu đôi khi phải thông
    hiểu các luật về kinh doanh, không những của chính nước
    mình mà cả của nước sở tại, cũng như ở những nơi sẽ được
    chọn để phân giải nếu chẳng may hợp đồng bế tắc trong lúc thi
    công.
    Thế rồi khi cuộc thương thuyết kéo dài hàng tháng, thậm chí
    hàng năm, người được phái đi thương thuyết phải nhẫn nại và
    kín đáo như thế nào để đạt được kết quả mong muốn cho tập
    thể của mình. Nhẫn nại, vì kinh nghiệm cho thấy có nhiều dự
    án được thương thuyết trong 3 hoặc 4 năm, như một nhà máy

    điện nguyên tử hạt nhân chẳng hạn. Thậm chí tôi từng thấy
    một dự án điện lực ở Ấn Độ được một đồng nghiệp của tôi trong
    công ty bỏ 10 năm cuộc đời mà thương thuyết vẫn chưa xong!
    Còn phải kín đáo là chuyện dĩ nhiên. Có bao nhiêu cặp mắt soi
    mói theo dõi việc làm của mình, trong đó có đối thủ từ các
    nước, thành viên bên phía chủ đầu tư, vì khi ngồi ròng rã một
    thời gian dài với đối tác rất khó che giấu những ưu khuyết của
    mình. Để lộ một con số, để hở một nỗi thất vọng hay một dữ
    kiện làm cho phe mình lạc quan hơn đều có khả năng gây ra
    tình huống bất lợi. Do đó ngay việc giữ bí mật trong một thời
    gian dài cũng là cả một nghệ thuật.
    Thú thật, tôi không tìm thấy câu trả lời rõ ràng cho những
    câu hỏi trên trong những cuốn sách được bán ở các nhà sách.
    Thậm chí ở nước ngoài cũng chẳng có mấy sách nói chi tiết về
    những tình huống đặc trưng nói trên. Phần lớn các sách đều
    giống như những bài ca cổ điển, phải thế này thế nọ, y như
    chuẩn bị cho thí sinh đi thi. Và tất nhiên, khi vào bàn hội nghị,
    người nào được phái đi thương thuyết sẽ khó quên được mình
    đang có số phận hẩm hiu của thí sinh sắp vào mùa thi cử! Tim
    đập mạnh, tâm lo lắng, giọng nói đôi khi còn the thé mỗi khi
    phải phát biểu. Rồi khi quen thuộc hơn, người ta lại không
    tránh được việc lẫn lộn quyền lợi của tập thể với cá nhân, đôi
    khi mời cả tự ái vào cuộc chơi, và cuối cùng không tìm thấy kết
    quả đúng như sự mong đợi.
    Dù xét ở hình thức hay nội dung, đi thương thuyết mà cứ
    như đi thi cử là một sai lầm to tát. Thương thuyết là một nghệ
    thuật phải thấm nhuần như bản năng chứ không phải một kỹ
    thuật cần được học và hấp thụ trước khi trả bài.
    Mà đã là nghệ thuật thì phải đưa ta đến một trạng thái vui,
    thú vị, đáng ghi nhớ. Làm sao có thể đi đến hợp đồng nếu hai

    bên không hợp và không đồng. Nên việc hợp với đồng phải vui
    chứ! Mà vui thì cả đôi bên cùng vui? Và cùng vui thì cùng chia
    sẻ nỗi niềm, sự thân tình chứ? Nghệ thuật phải cho phép ta
    đoàn kết loài người với nhau chứ không phải hai phe nhìn nhau
    như thù địch, nếu không muốn nói ghét nhau như bầy sói sắp
    rỉa nhau.
    Tôi không muốn dùng từ khó khăn để đánh giá một cuộc
    thương thuyết, vì hễ còn khó khăn là còn có bức xúc. Không!
    Thương thuyết là tìm sự đồng tình, thỏa thuận có thể chấp
    nhận được cho cả đôi bên; là một sự nhìn nhận khách quan
    rằng giải pháp của đôi bên vừa công bằng vừa thực tế; là giải tỏa
    được mọi khúc mắc để cùng nhau tiến lên. Điều đó có nghĩa cả
    hai bên đều nhìn một phía chứ không phải đối chọi nhau một
    cách gay gắt. Nghệ thuật là thế.
    Do truyền bá nghệ thuật là một việc khó thực hiện, có lẽ chia
    sẻ kinh nghiệm trước nhiều tình huống khác nhau là phương cách
    hữu hiệu nhất.
    Bạn đọc sẽ ngạc nhiên thấy những cuộc hội đàm ấm áp và vui
    vẻ dễ đi đến kết quả một cách vừa ôn tồn vừa nhanh chóng, đôi
    khi còn chớp nhoáng khi đôi bên thụ ý được của nhau sớm.
    Sau nhiều năm thực hành tôi mới thực sự hiểu được rằng
    thương thuyết chỉ đơn giản là tìm cái lợi cho cả đôi/đa bên, một
    phương án công bằng, cân bằng sau khi các bên đã hiểu rõ thật
    kỹ lưỡng bên kia thực sự muốn gì. Cái chìa khóa đưa đến thành
    công nằm ở chỗ “hiểu và nhìn nhận mỗi bên muốn gì”. Trông thì
    dễ nhưng rất nhiều cuộc thương thuyết va vấp vì không nắm
    vững điều căn bản này, bất chấp đề tài thương thuyết đơn giản
    hay phức tạp. Nhưng nếu các bên hiểu được nó thì khi tới bàn
    hội nghị sẽ cố gắng lắng tai nghe phía bên kia muốn gì, và nếu
    cả hai bên sẵn lòng làm việc đó thì đã giải quyết được hơn phân

    nửa vấn đề rồi! Những người có năng khiếu thương thuyết đều
    rất nhạy, đoán ý chính xác, linh tính rất tinh xảo, để rồi hai bên
    sớm đoán được ý nhau.
    Làm được việc ấy hẳn đòi hỏi kinh nghiệm, nhưng ngoài
    kinh nghiệm còn đòi hỏi thêm thái độ tìm hiểu tích cực, giải
    phóng trực giác đến cực độ, mang hết tâm trí chân thành để
    lắng nghe đoán ý, cả chủ ý bên mình cũng như bên đối diện. Rồi
    sau đó động viên khả năng sáng kiến, kích hoạt trí tưởng tượng
    để giải quyết sự phân cách, hòa giải những bất đồng, cùng tìm
    ra phương án cân bằng đem cái lợi tối đa cho đôi/đa bên.
    * * *
    Từ những ý nghĩ nói trên, tôi quyết định viết sách này với
    một tinh thần hoàn toàn khác. Tôi muốn cống hiến cho các bạn
    một số bài học cá nhân tôi rút tỉa được trong suốt 40 năm nghề
    nghiệp. Tôi muốn chuyển tải những gì mình đã thực sự học
    được. Lỗi lầm có, việc tốt có, đều kể lại tất cả để các bạn đọc suy
    ngẫm.
    Sách này tôi viết ưu tiên cho những bạn nào hiếu kỳ, muốn
    tìm hiểu về thương thuyết. Bạn có thể là sinh viên đang phân
    vân trước những lựa chọn về hướng đi nghề nghiệp, hay là
    người chủ trì một đội sắp vào bàn đàm phán, hay là Chủ tịch
    hoặc Tổng giám đốc của một công ty được mời gửi đội tới
    thương thảo. Dưới cách viết như kể chuyện, tôi mong sách dễ
    đọc cho mọi loại độc giả. Thậm chí sách còn có thể giúp cho bạn
    nào đang nghiên cứu về tâm lý con người và cách xử sự sao cho
    khôn khéo, sao cho chóng lấy sự đồng tình đồng tâm từ một
    nhóm ít nhiều người. Nội dung của sách hướng về thương

    thuyết đã đành, nhưng chú trọng đến cái tạm gọi là nghệ thuật.
    Do đó, nhiều khi bạn đọc thấy tôi dùng từ thương thuyết,
    thương thảo, đàm phán, lấy hợp đồng, hay vào bàn hội nghị… Ý
    nghĩa bóng của các từ ngữ đó cũng chỉ định một nghĩa mà thôi:
    việc cố gắng đi tìm sự đồng thuận, sự thỏa hiệp, vẽ ra một mô
    hình trao đổi và đôi khi là cộng tác lâu dài.
    Tôi cũng vô cùng cảm ơn Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn đã tặng tôi
    cơ hội viết một số bài về thương thảo trong những năm qua.
    Tôi không ngờ những bài được đăng lại gây phản ứng tốt và
    rộng rãi như vậy, nhất là trong giới kinh doanh, thậm chí sau
    khi 6, 7 bài đã được đăng tải xong, có khá đông bạn muốn tôi
    viết thêm. Do đó, sách sẽ đăng (hoặc trích) cả những bài này
    được viết lại dưới hình thức chỉn chu hơn.
    * * *
    Dưới một góc độ nào đó thì có thể khẳng định thương thuyết
    là một việc ai cũng phải làm hàng ngày, hàng giờ. Sống trong xã
    hội, người với người, trong sự bon chen, trong một khung cảnh
    kinh tế dựa trên sự trao đổi làm căn bản, thì việc thương thuyết
    không thể tránh được. Lên xe buýt tìm chỗ ngồi, mua quả táo,
    chơi với con cháu… toàn là những tình huống sẽ đưa tới một
    cuộc thương thuyết to nhỏ với người lái xe, bà bán trái cây hay
    những đòi hỏi của con cháu, nói chi đến việc mua nhà sắm xe.
    Đến khi vào công sở, thăng quan, tiến chức, lên lương đều là
    những lúc phải thương thuyết khéo léo, thậm chí là gay go… Kể
    cả chuyện lập gia đình, hỏi vợ lấy chồng chẳng qua cũng là
    thương thảo đấy thôi.
    Nhưng khác với những hành vi kể trên, thường chúng ta phải

    thương thuyết với những người không quen từ trước mà vẫn phải
    sắp sửa có sự trao đổi nào đó với họ, phải gây một sự tín nhiệm nào
    đó trong giây lát, hay nhận thực hiện một cam kết nào đó trong
    khoảnh khắc.
    Xã hội ngày nay không có chỗ cho người trốn tránh việc này.
    Mình muốn tránh giao thiệp cũng không được. Không có sự
    trao đổi ngoài xã hội là không có sự sống. Ngày xưa nếp sống xã
    hội khác. Thái độ dè dặt với kẻ lạ là chuyện bình thường. Thời
    đó người ta không có nhu cầu trao đổi như ngày hôm nay, rất
    đông người thấy “khớp” nếu chẳng may phải gượng gạo trò
    chuyện với người ít quen biết, nói chi đến đàm phán.
    Nhưng ngày nay, nhu cầu mọi thứ rất cao, sự trao đổi ngoài
    xã hội đòi hỏi sự có mặt mỗi giây mỗi phút. Người nào mạnh
    dạn, vui vẻ, hoạt bát, khéo nói, khéo trình bày hẳn ở một thế lợi
    không thể chối cãi.
    Ngày nay, thái độ “khớp” hoặc né tránh chỉ là một bằng
    chứng cho thấy mình chưa hiểu tâm lý của đối tác và có lẽ của
    cả chính mình. Thương thuyết khéo léo hay đem phần lợi về phe
    mình mà vẫn làm cho đối tác thấy là có lợi cả cho họ. Nghệ thuật
    chính là ở chỗ đó!
    * * *
    Tôi cũng muốn nói với bạn đọc rằng quyển sách này sẽ không
    phải là những lời giáo điều lý thuyết về thương thuyết. Tất cả sẽ
    là kinh nghiệm và chỉ kinh nghiệm mà thôi.
    Trước nhất là kinh nghiệm sống. Tôi đã sống ở nước ngoài
    gần 50 năm, bôn ba trên nhiều quốc gia với văn hóa khác nhau
    như Brazil, Singapore, Malaysia, đảo Fiji, không quên Pháp

    Quốc là nước đã đón nhận và nuôi dưỡng tôi.
    Sau đó là kinh nghiệm nghề, suốt một cuộc đời buôn bán
    trên 80 quốc gia ở khắp năm châu. Ở đây, tôi xin nhấn mạnh là
    tôi bán nhiều hơn mua, do đó kinh nghiệm bán hàng của tôi
    được trau chuốt hơn mua. Một góc cạnh quan trọng nữa là suốt
    đời nghề nghiệp của tôi toàn bán những dự án khổng lồ về điện
    lực, metro, đường sắt, hạ tầng cơ sở, những dự án trên dưới
    hàng trăm triệu đôla, thậm chí hàng tỷ. Do đó tôi đã được sống
    hàng ngày với những “con hùm” của thương thuyết trên thế
    giới, những “siêu sao” của Đức, Nhật, Mỹ… Tôi biết ơn các bạn
    đó cũng tặng cho tôi những chức sắc đặc biệt. Đã có một thời
    gian tôi từng điều động nền điện lực thế giới cùng với họ. Chỉ có
    6 người đại diện 6 công ty hùng mạnh nhất thế giới làm việc
    này với nhau. Thú thật hồi đó tôi cứ có cảm nhận chủ quan và
    lầm lẫn là trên mình chỉ còn trời với mây thôi, và chỉ có mưa là
    tôi không biết làm, chứ đến việc thổi gió mạnh cũng không còn
    bí mật gì với tôi nữa. Bạn đọc hãy tha thứ cho tôi vì nói về
    chính mình hơi nhiều nhưng đó là sự thật. Và ngay bây giờ, khi
    tôi gặp lại các kịch sĩ cũ đó, cũng như tôi, họ đã về hưu cả rồi.
    Chúng tôi không khỏi nhắc đến thời vinh quang xa xưa đã cùng
    nhau xây dựng thế giới về lĩnh vực chuyên môn trong một thời
    gian khá dài. Chúng tôi toàn thương thuyết ở thế “đối đầu”
    nhau, nhưng dựa trên căn bản là lòng kính trọng của mỗi người
    dành cho nhau, vì ai cũng dốc toàn tâm toàn ý xây dựng một
    thế giới điện lực tốt hơn.
    Năm tháng trôi qua, tôi không ngờ trí óc vẫn nghiền đi
    nghiền lại những chuỗi ngày dài ngồi thương thảo, những bài
    học đàm phán vui tươi có, đau buồn có. Những lỗi lầm ngày nào
    cứ còn âm ỉ, đôi khi nặng nề hơn xưa. Những lúc vui mừng cứ
    còn nguyên âm hưởng. Tâm trí vẫn tìm cách giải mã những bài

    toán xưa kia chưa có lời đáp.
    Nhìn dưới góc độ đó, cuốn sách này sẽ giúp cho tôi tự giải
    thoát tư tưởng về thương thuyết sau nhiều năm rèn luyện đã đi
    tới nhuần nhuyễn, một loại niết bàn của kỹ năng đàm phán. Tôi
    rất vui được bạn đọc chiếu cố, vì cho phép tôi chia sẻ.
    * * *
    Trước khi vào nội dung, tôi cũng xin nói thêm ý muốn viết
    sách này như truyện chứ không dưới hình thức cấu trúc của
    sách giáo khoa. Bạn hãy đọc sách như đang nghiệm một cẩm
    nang, những lời dặn dò của kẻ đã đi qua những khó khăn mà
    bạn đang gặp. Bạn sẽ không tìm ra trong sách này những giải
    pháp ngắn gọn cụ thể, nhưng ngược lại bạn sẽ hiểu được thái độ
    phải có, văn hóa phải học, nhân sinh quan phải hấp thụ để cuộc
    đàm phán nào cũng thành công.
    Đúng như vậy bạn ạ, nếu hiểu thấu thế nào là đàm phán, tại
    sao phải thương thảo, nếu biết thấu đáo rằng mỗi giây mỗi phút
    bạn có dịp xây dựng xã hội trong bối cảnh cọ xát người với
    người thì bạn sẽ nhẹ nhàng đón nhận mọi cuộc đàm phán như
    một cơ hội để quen biết thêm, để xây dựng thêm, để trau dồi
    thêm. Bạn sẽ hiểu rằng ai cũng có thể trở thành bạn lâu dài của
    mình nếu hiểu đàm phán theo đúng nghĩa của nó. Bạn sẽ vui vẻ
    và nhẹ nhàng bước vào bàn hội nghị với tâm trí của một người
    tích cực, cởi mở, xây dựng. Bạn sẽ không cảm thấy “khớp” khi
    phải thương thuyết bằng tiếng mẹ đẻ của kẻ khác ngay tại xứ
    của họ. Bạn sẽ không sợ hãi khi một mình thương thuyết với cả
    phái đoàn ba bốn chục người. Bạn sẽ không còn lo lắng khi biết
    phải đàm phán trực tiếp với những người chức vụ quan trọng.

    Bạn sẽ không ngần ngại trình bày một vấn đề tế nhị có khả năng
    khiến đối tác nghĩ ngợi, nếu không muốn nói là thất vọng. Bạn
    sẽ mạnh dạn nói rõ những gì phải nói cũng như vẫn hiểu nghệ
    thuật của sự kín đáo. Bạn sẽ hiểu là hai đối tác ngồi đối diện
    không nhất thiết cứ phải mang mâu thuẫn mà còn có những
    điểm tương đồng, rằng họ phải rà soát tất cả cơ hội tốt có lợi
    cho đôi bên, rằng trong một xã hội pháp quyền, bạn không có
    một cam kết gì với ai khi chưa ký vào một văn bản. Và dù bạn
    có ký, chữ ký đó cũng chỉ là một sự nhìn nhận của cá nhân bạn
    nếu bạn không có giấy ủy quyền chính thức của công ty. Vậy
    bạn sợ gì, mong gì đều là ảo nếu chưa có văn bản hợp lệ, hợp
    pháp.
    Nếu bạn hiểu được như vậy, cuốn sách này đã đạt được kết
    quả mong muốn, đó là qua những mẩu chuyện, bạn hấp thụ
    được cái chính và cái phụ.
    * * *
    Tôi muốn mở đầu quyển sách bằng một câu chuyện ca dao
    được truyền lại trong dân gian, người Việt nào cũng thuộc, đó
    là chuyện thằng Bờm có từ xửa từ xưa. Trong mười câu thơ lục
    bát có đầy đủ những uẩn khúc của thương thuyết. Phú Ông sắc
    sảo và thằng Bờm hồn nhiên là hai nhân vật đặc sắc của nền văn
    hóa dân tộc Việt. Các bạn sẽ ngạc nhiên là trong văn hóa của
    chúng ta đã có những “nhà thương thuyết” có tay nghề như
    vậy. Bạn sẽ hãnh diện và tự hào trong dân gian có những “anh
    hùng của kinh doanh”. Và nếu bạn cảm thấy rằng mình có khả
    năng của Phú Ông và cả của thằng Bờm, tôi sẽ khẳng định ngay:
    bạn đã có sẵn kỹ năng thương thuyết bẩm sinh. Chúc mừng

    bạn! Và nếu như thế thì bạn lại đọc sách này với niềm thích thú
    khác!
    * * *
    Giờ đây chắc bạn đã hiểu: mục đích của tôi chỉ là muốn chia
    sẻ qua những câu chuyện của chính cuộc đời mình. Không có gì
    quan trọng bằng sự hiểu biết, nhất là sự hiểu biết được rút tỉa
    qua kinh nghiệm. Các bạn đọc hãy nhận quyển sách này như
    một cố gắng của cá nhân tôi để làm một món quà bằng tiếng
    Việt, từ tim Việt, lòng Việt và cho người Việt. Một món quà tóm
    tắt lại 40 năm bôn ba, xa quê hương mà vẫn hằng mong ngày
    trở về. Gặp biết bao nhiêu người và hội đoàn, đối mặt biết bao
    nhiêu tình huống, giải quyết biết bao nhiêu câu hỏi, tìm ra biết
    bao nhiêu phương án, để rồi đem tất cả về với quê hương, đặt
    trong quyển sách này, đưa đến tay các bạn. Ngày hôm nay,
    chính là giao điểm đó bạn ạ.
    PHAN VĂN TRƯỜNG
    - Giáo Sư - Kỹ Sư - Hiệp Sĩ Cố vấn Chính phủ Cộng Hòa Pháp
    Ngày 11 tháng 12 năm 2013

    Chương 1

    Thằng Bờm và Phú Ông: hai tay
    cao thủ
    hú thật, mỗi lần tham khảo bài thơ “Thằng Bờm”, tôi
    không khỏi lại một lần kinh ngạc: làm sao trong văn hóa
    dân gian để lại cho chúng ta một bài giảng về nghệ thuật

    T

    thương thuyết thâm thúy như vậy được!
    Nếu có ai hỏi tôi rằng chỉ còn 5 phút trước khi vào bàn hội
    nghị, phải nhớ những điều gì để thương thuyết cho thuận lợi,
    có lẽ tôi chỉ kh
     
    Gửi ý kiến