TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    7245564411445.flv 20.jpg 9.jpg 8.jpg 7.jpg 6.jpg 5.jpg 4.jpg 3.jpg 2.jpg 1.jpg M.jpg T.jpg

    Chào mừng quý vị đến với website của Thư viện trường THTHCS Điềm He

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Đường Bác Hồ đi cứu nước

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Đường Bác Hồ đi cứu nước
    Người gửi: Lương Thị Ngân
    Ngày gửi: 09h:53' 20-10-2025
    Dung lượng: 65.2 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC

    Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm cña Th­ viÖn Quèc gia
    ViÖt Nam
    Tr×nh Quang Phó
    §­êng B¸c Hå ®i cøu n­íc / Tr×nh Quang Phó tuyÓn
    chän, b.s. - H. : ChÝnh trÞ Quèc gia, 2015. - 676tr. ; 21cm
    1. Hå ChÝ Minh, L·nh tô C¸ch m¹ng, chÝnh trÞ gia,
    1890-1969, ViÖt Nam 2. LÞch sö 3. Ho¹t ®éng c¸ch m¹ng
    959.704092 - dc23
    CTH0317p-CIP
    .

    4

    HÀNH TRANG RA ĐI TÌM ...

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp
    giải phóng dân tộc và phong trào cách mạng thế giới. Cả cuộc đời và
    sự nghiệp của Người là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng,
    vì độc lập và tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
    Sinh ra và lớn lên ở vùng đất giàu truyền thống cách mạng, sớm
    được tiếp thu những tư tưởng yêu nước tiến bộ, Người đã bôn ba
    khắp năm châu tìm con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam.
    Người đã sớm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng và phát triển
    sáng tạo học thuyết cách mạng vô sản vào hoàn cảnh cụ thể của đất
    nước ta, sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo
    cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
    Tư tưởng, tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài
    sản tinh thần vô giá của toàn Đảng, toàn dân ta, là tấm gương sáng để
    nhân dân ta phấn đấu học tập và noi theo. Thực hiện Chỉ thị số
    06-CT/TW ngày 7-11-2006 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tổ
    chức Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
    Minh và Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị về tiếp
    tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,
    trong những năm qua, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức
    của Bác đã trở thành một phong trào sâu rộng trong toàn Đảng, toàn
    dân và toàn quân ta, đạt hiệu quả tích cực và đóng góp thiết thực đối
    với công tác xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.

    5

    ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC

    Cuốn sách Đường Bác Hồ đi cứu nước được GS.TS. Trình Quang
    Phú tuyển chọn và biên soạn từ nhiều tác phẩm và bài báo viết về
    Chủ tịch Hồ Chí Minh được kết cấu thành hai phần:
    Phần I: Đường Bác Hồ đi cứu nước khái quát những sự kiện về
    gia đình, tuổi thơ của Bác, con đường Bác bôn ba khắp năm châu
    để đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm ra con đường giải phóng
    cho dân tộc khỏi ách nô lệ, sáng lập Đảng ta và lãnh đạo nhân dân
    ta giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945,
    khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
    Phần II: Theo Bác đi kháng chiến trình bày những sự kiện chính
    trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta dưới sự
    lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là trong tình thế
    "ngàn cân treo sợi tóc" vô cùng khó khăn của nước Việt Nam Dân chủ
    Cộng hòa non trẻ vừa mới được thành lập trước vòng vây của các
    nước đế quốc, thực dân và sự chống phá của các thế lực thù địch.
    Nội dung cuốn sách gồm nhiều câu chuyện có khi được tác giả kể
    lại, có khi được kể lại bởi chính người trong cuộc với những tình cảm
    rất chân thành, sâu sắc, những kỷ niệm không thể nào quên, nhờ đó
    Bác Hồ của chúng ta thật gần gũi, giản dị và thân thiết như vị Cha già
    của dân tộc nhưng cũng là vị lãnh tụ thật lớn lao, vĩ đại khiến cả kẻ
    thù phải kính phục. Ngôn từ của cuốn sách giản dị, câu chuyện hấp
    dẫn, gần gũi, nội dung sâu sắc, cuốn sách là tài liệu tham khảo có giá
    trị thiết thực để bạn đọc tiếp tục tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp và tư
    tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Trong quá trình biên soạn,
    với nguồn tư liệu hết sức phong phú viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh,
    cuốn sách khó tránh khỏi hạn chế, thiếu sót, rất mong nhận được ý
    kiến góp ý của bạn đọc để cuốn sách hoàn thiện hơn.
    Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
    Tháng 8 năm 2015
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT

    6

    HÀNH TRANG RA ĐI TÌM ...

    LỜI GIỚI THIỆU
    CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

    Tác phẩm "Đường Bác Hồ đi cứu nước"
    là một công trình sưu tập, biên soạn công phu.
    Tôi hoan nghênh Tiến sĩ Trình Quang Phú đã có
    nhiều cố gắng tuyển chọn và biên soạn thành
    công tác phẩm này.
    Mong quyển sách "Đường Bác Hồ đi cứu
    nước" sẽ góp thêm với bạn đọc, nhất là các bạn trẻ
    những tư liệu quý về Chủ tịch Hồ Chí Minh.
    Hà Nội, Mùa Thu 2002.

    Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP

    7

    ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC

    8

    HÀNH TRANG RA ĐI TÌM ...

    HÀNH TRANG
    RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC
    CỦA BÁC HỒ*
    PHẠM VĂN ĐỒNG

    H

    ồ Chí Minh là người suốt đời phấn đấu vì một lý
    tưởng cao đẹp, từ ngày ra đi tìm đường cứu
    nước (5-6-1911) trở thành nhà hoạt động cách mạng kiên
    cường và bền bỉ cho đến hơi thở cuối cùng (2-9-1969), đưa
    đất nước và dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi
    khác. Tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với con người Hồ
    Chí Minh, là biểu tượng, tấm gương sáng, niềm tự hào
    của các thế hệ Việt Nam không ngừng đoàn kết phấn đấu
    thực hiện nguyện vọng thiết tha của cộng đồng dân tộc
    thời vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh.
    Tôi bắt đầu cuốn sách về tư tưởng Hồ Chí Minh bằng
    cách đặt câu hỏi Hồ Chí Minh là ai lúc ra đi tìm đường
    cứu nước?
    __________
    * Trích Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ
    Chí Minh, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1998.

    9

    ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC

    Nhiều người đã viết về đề tài này, ở đây tôi chỉ chú ý
    mấy nét để trả lời câu hỏi vừa được nêu lên.
    Nói về hành trang của Hồ Chí Minh lúc ra đi thì phải
    thấy rõ hoàn cảnh gia đình của Hồ Chí Minh, đồng thời phải
    thấy quê hương của Hồ Chí Minh là tỉnh Nghệ An, từ đó mà
    thấy một cách đậm nét dấu ấn của gia đình, quê hương, Tổ
    quốc và dân tộc đối với Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí
    Minh sau này. Hồ Chí Minh đặc biệt thích thú và quý trọng
    truyền thống xa xưa của dân tộc, thể hiện một cách giàu đẹp
    trong lời ăn tiếng nói, trong phong tục tập quán, trong tình
    làng nghĩa xóm, việc nước gắn với việc nhà: "Một cây làm
    chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao", một câu ca
    dao đậm tính trữ tình cũng như khí phách hùng tráng của
    dân tộc, đúng là "muôn thuở giang sơn này".
    Tôi nhấn mạnh những điểm trên bởi lẽ những giá trị
    văn hóa ngày càng ăn sâu vào con người, tư duy và
    phong cách của Hồ Chí Minh trong suốt đời hoạt động
    của mình trải qua biết bao biến đổi và sóng gió.
    Như mọi người đều biết, Hồ Chí Minh sinh trưởng trong
    một gia đình trí thức nho giáo, ông bố tuy đậu Phó bảng
    nhưng không đi theo con đường làm quan như thói thường
    mà luôn luôn ôm ấp tư tưởng về vận mệnh của đất nước, của
    dân, chuyên tâm nuôi dạy các con theo chí hướng lớn.
    Quê hương của Hồ Chí Minh là tỉnh Nghệ An giàu
    truyền thống phấn đấu kiên cường vì sự nghiệp của nước,
    của dân. Quê hương bên nội ở làng Sen, bên ngoại ở làng
    Hoàng Trù, huyện Nam Đàn, đã ghi những dấu ấn sâu
    sắc trong tâm trí Hồ Chí Minh ngay từ tuổi thơ ấu.
    Huế, kinh đô triều Nguyễn lúc bấy giờ, cũng là một
    môi trường đã có những ảnh hưởng tốt đẹp đối với tuổi
    thiếu niên của Nguyễn Tất Thành.
    10

    HÀNH TRANG RA ĐI TÌM ...

    Phải nói thêm rằng cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã
    tận dụng mọi cơ hội để đưa các con đi làm quen với nhiều
    nơi trên đất nước ta, đó cũng là cơ hội tiếp xúc với nhiều
    nhân vật yêu nước thời bấy giờ.
    Tất cả những điều kể trên dần dần đã làm chín muồi
    trong tư tưởng và tình cảm của người thanh niên Nguyễn
    Tất Thành mong muốn mãnh liệt đi tìm con đường cứu
    nước, cứu dân, nhất định không thể sống cuộc đời mất
    nước, mất độc lập, tự do. Đó cũng là ý nguyện chung của
    toàn thể dân tộc và của mỗi người Việt Nam lúc bấy giờ.
    Nhưng đi đâu? Đi hướng nào? Đi tìm cái gì? Đây cũng là
    những day dứt, trăn trở trong tâm hồn của người thanh
    niên yêu nước tuổi đôi mươi. Lúc nhỏ ở quê nhà cũng như
    lúc học ở Huế, Nguyễn Tất Thành biết khá rõ phong trào
    Cần Vương, Đông Du, cuộc vận động Đông Kinh Nghĩa
    Thục, phong trào khởi nghĩa ở nhiều nơi... Người thanh
    niên Nguyễn Tất Thành với sự nhạy cảm và sự sáng suốt lạ
    lùng dần dần thấy rõ tất cả những xu hướng cứu nước thời
    ấy đều không đem lại và không thể đem lại kết quả mong
    muốn. Sự thật ngày nay chứng minh điều đó. Vậy phải đi
    tìm con đường khác để tới những chân trời mới. Một điều
    rất có ý nghĩa là lúc Nguyễn Tất Thành thấy cụm từ tự do,
    bình đẳng, bác ái, thì cậu muốn biết đằng sau nó có cái gì!
    Đương nhiên lúc bấy giờ Nguyễn Tất Thành không thể đọc
    hoặc được nghe nói về những tư tưởng lớn của phương
    Tây. Vậy thì con đường là đi đến phương Tây đầy bí ẩn với
    tất cả những triển vọng chưa lường hết được. Sự nghiệp
    của Hồ Chí Minh bắt đầu từ đây. Vận mệnh lớn của nước,
    của dân gắn bó mật thiết với một quyết định mà lịch sử đã
    chứng minh là sáng suốt phi thường.
    11

    ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC

    Từ cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành lên đường
    theo hướng đã định. Chúng ta thử xem hành trang lúc
    bấy giờ của Nguyễn Tất Thành có gì? Đó là truyền thống
    lịch sử 4.000 năm với sức sống mãnh liệt của một dân tộc,
    kiên trì phấn đấu vượt khó khăn gian khổ, bảo toàn và
    phát triển bản lĩnh quý báu của mình; truyền thống đoàn
    kết đấu tranh dựng nước và giữ nước, không ngừng vun
    đắp sức mạnh của cộng đồng, một lòng tương thân tương
    ái, cũng như bồi dưỡng nền văn hiến, từ đó mà không
    ngừng phát triển bản lĩnh dân tộc, sức sống dân tộc, tình
    cảm dân tộc. Cùng với truyền thống tư tưởng và bản sắc
    văn hóa Việt Nam, trong hành trang của Nguyễn Tất
    Thành lúc rời Việt Nam ra đi còn có những thành quả tư
    tưởng của phương Đông, nhất là của hai nền văn hóa lớn
    Trung Quốc và Ấn Độ, qua nhiều thế kỷ giao lưu phần
    nào đã hội nhập vào văn hóa Việt Nam, và được Nguyễn
    Tất Thành tiếp thu qua giáo dục của gia đình, của nhà
    trường và cuộc sống xã hội. Đồng thời trong hành trang
    này còn phải đặc biệt nhấn mạnh những khát vọng lớn,
    những hoài bão lớn của Nguyễn Tất Thành về tương lai
    Tổ quốc và dân tộc, là đánh đổ chế độ áp bức, bóc lột thực
    dân và phong kiến vươn lên xây dựng đất nước, xây dựng
    xã hội, xây dựng con người tự do, hạnh phúc và văn
    minh. Toàn bộ hành trang quý báu đó là lẽ sống, là nội
    tâm, là niềm tự hào và tự tin, là sức mạnh tinh thần kỳ
    diệu của người thanh niên yêu nước trên con đường chưa
    thấy bờ bến của mình. Nguyễn Tất Thành rất khôn ngoan
    khi chọn cái nghề làm bếp trên tàu để có việc làm và cuộc
    sống hàng ngày, đồng thời để có cơ hội chu du thiên hạ,
    đi Pháp, đi các nước châu Á, châu Phi, Mỹ latinh, dừng
    12

    HÀNH TRANG RA ĐI TÌM ...

    chân ít lâu tại nước Mỹ và nước Anh để rồi về lại nước
    Pháp. Tại đây một cái tên mới xuất hiện.
    Nguyễn Ái Quốc gửi bản "Yêu sách của nhân dân An
    Nam" đến Tổng thống Mỹ và trưởng đoàn các nước dự
    Hội nghị Vécxây. Tôi không thể không trích một đoạn có
    ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong bản yêu sách nói trên:
    "Từ ngày đồng minh thắng trận, tất cả các dân tộc bị lệ
    thuộc đều chứa chan hy vọng rằng theo những lời cam kết
    chính thức và trịnh trọng mà các cường quốc đồng minh
    tuyên bố với toàn thế giới, trong cuộc đấu tranh của văn
    minh chống dã man, thì tiền đồ một thời đại công lý và
    chính nghĩa nhất định là phải đến với họ". Tiếp theo câu
    nói trên, Nguyễn Ái Quốc đòi các đại biểu dự hội nghị
    thừa nhận quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc,
    trong đó có dân tộc Việt Nam. Cuộc vận động này của
    Nguyễn Ái Quốc có tiếng vang ở châu Âu và gây dư luận
    rộng rãi ở Đông Dương, nhất là ở Việt Nam, lúc bấy giờ.
    Bức thư gửi Hội nghị quốc tế Vécxây chỉ là một hoạt
    động bên lề của Nguyễn Ái Quốc, bởi mục tiêu của Nguyễn
    Ái Quốc là tiếp tục đi tìm con đường cứu nước, cứu dân.
    Theo hướng này, Nguyễn Ái Quốc có những hoạt động đa
    dạng và phong phú ở Pari, tiếp xúc rộng rãi với các đảng phái
    chính trị của nước Pháp và các nhóm chính trị khác nhau của
    người Việt Nam. Sau cuộc hành trình mấy năm trời qua
    nhiều châu lục, Nguyễn Ái Quốc có cơ hội vũ trang cho mình
    những hiểu biết mới về các dân tộc bị áp bức ở rất nhiều nơi
    trên thế giới, những hiểu biết về các nước tư bản chủ nghĩa
    phương Tây: Cái gì ở dưới chân tượng Nữ thần tự do tại Nữu
    Ước! Cái gì đằng sau cụm từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái! Đồng
    thời Nguyễn Ái Quốc đã có thời gian tìm hiểu và suy nghĩ về
    13

    ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC

    những tư tưởng lớn của các bậc hiền triết cổ kim Đông Tây,
    làm giàu thêm tư duy của mình.
    Giờ đây, trở lại hành trang của Hồ Chí Minh lúc ra đi,
    tôi thấy cần làm nổi bật biết bao những hiểu biết mới lạ làm
    giàu thêm hành trang ấy từ phương Đông sang phương
    Tây, từ các dân tộc bị áp bức đến các nước tư bản chủ nghĩa
    phát triển nhất, từ các nền văn minh cổ xưa đến các nền văn
    minh hiện đại lúc bấy giờ. Một điều nữa tôi phải đặc biệt
    nhấn mạnh là những hoài bão, những mong muốn lúc ra đi
    đã trải qua một quá trình biến đổi sâu sắc và đó là những
    hoài bão mới, những đòi hỏi mới cần được thỏa mãn.
    Từ đó chúng ta có thể hình dung được cái quý mà Hồ
    Chí Minh đang tìm phải có tầm vóc cao sâu đến mức nào. Lạ
    lùng thay, Hồ Chí Minh đã tìm được cái mình mong muốn,
    và đây là sự gặp gỡ hầu như có duyên nợ lịch sử. Chính lúc
    bấy giờ là lúc Hồ Chí Minh có cơ hội đọc Luận cương của
    Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa trình bày ở Đại hội lần thứ II
    của Quốc tế Cộng sản năm 1920. Sau khi đọc luận cương
    này, Nguyễn Ái Quốc đã thốt lên câu nói nổi tiếng: "Đây là
    cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng
    chúng ta", thể hiện niềm sung sướng không sao diễn tả hết.
    Thấy những điều ấp ủ của Nguyễn Tất Thành thì dễ hiểu
    được tâm trạng của Nguyễn Ái Quốc khi đọc Luận cương
    của Lênin. Luận cương ấy đưa đến việc Nguyễn Ái Quốc
    dày công nghiên cứu học thuyết Mác - Lênin, cố gắng tìm ở
    đấy cái gì mình thiết tha nhất.

    14

    PhÇn I

    §­êng b¸c hå ®i cøu n­íc

    15

    16

    I

    T

    heo gia phả họ Nguyễn Sinh ở làng Sen cách
    đây 400 năm, ông Nguyễn Bá Phổ - vị khởi
    thủy dòng họ Nguyễn Sinh đã đến lập nghiệp ở vùng quê
    Kim Liên. Việc đổi chữ lót Nguyễn Sinh thay cho Nguyễn
    Bá diễn ra từ thế hệ thứ năm. Cũng là thời kỳ xuất hiện
    nhiều nhân tài đỗ đạt trong dòng họ. Đến ông Nguyễn
    Sinh Nhậm thì gia cảnh vào loại khá giả trong vùng. Ông
    lấy người vợ đầu, sinh được người con trai thì bà mất.
    Ông ở vậy nuôi con đến tuổi thành niên, lo vợ cho con
    xong ông mới lấy vợ kế, đó là bà Hà Thị Hy và sinh con
    trai, đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc. Được ba tuổi thì bà Hy
    mất, một năm sau ông Nhậm cũng qua đời. Mồ côi cả cha
    lẫn mẹ, Nguyễn Sinh Sắc tới sống với người anh cùng cha
    khác mẹ là Nguyễn Sinh Trợ, đang lúc cảnh nhà sa sút.
    Nguyễn Sinh Sắc phải đi giữ trâu kiếm sống. Nhiều lần
    Sinh Sắc ấm ức không được cùng bạn bè trong làng tới
    trường học. Không nhịn được lòng ham muốn, nhiều lần
    Sinh Sắc đã buộc trâu để học lén. Sẵn tư chất thông minh,
    chỉ nghe lén, học lỏm mà cũng "ra trò". Càng biết ra,
    Nguyễn Sinh Sắc càng ham học. Lưng trâu đã thành bàn
    học. Cậu mê mải sách quên cả việc đưa trâu đi ăn. Cả làng
    ai cũng quý cậu bé ham học. Ông đồ Hoàng Đường từ
    làng bên, tức Hoàng Trù thường ghé Nam Liên thăm bạn,
    17

    ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC

    vốn học cùng khóa với cụ Nguyễn Sinh Nhậm ngày trước,
    bao lần bắt gặp Sinh Sắc học trên lưng trâu, ông cũng nghe
    nhiều lời khen cậu bé thông minh và ham học nên càng quý
    cậu bé hơn.
    Tết Nhâm Dần (1878), làng Nam Liên mở hội xuân
    nô nức tưng bừng. Tiếng trống thúc, tiếng loa kêu râm
    ran náo động lòng người. Trai gái, trẻ già khắp mấy làng
    đều háo hức tụ hội vui Xuân. Trên đường đi dự hội, ông
    Hoàng Đường lại gặp cậu bé bình thản ngồi lưng trâu đọc
    sách nên ông đã đến gặp Nguyễn Sinh Trợ xin đưa
    Nguyễn Sinh Sắc về nuôi cho ăn học hẳn hoi.
    Chỉ hai năm sau, ông Hoàng Đường cảm thấy học vấn
    của cậu học sinh đặc biệt này chẳng thua kém gì mình
    mấy. Ông liền gửi Sinh Sắc đi xa 30 cây số tới học ông đồ
    giỏi nhất vùng. Đó là thầy đồ Nguyễn Thức Tự vừa nổi
    tiếng hay chữ lại là nhà yêu nước nhiệt thành nên được
    dân trong vùng rất quý trọng. Như được chắp cánh, ba
    năm sau, Sinh Sắc được gọi là một trong hai thần đồng về
    văn tài trong xứ.
    Sinh Sắc đến tuổi thành niên. Ông Hoàng Đường tính
    chuyện kết duyên giữa Sinh Sắc với con gái đầu lòng của
    mình là Hoàng Thị Loan. Cô gái cũng như ông bố quý
    mến người con trai có tài, có chí lại có đức. Song sự việc
    không suôn sẻ ngay vì cụ bà Hoàng Thị Kép cũng như
    phía họ hàng bên ngoại không gạt bỏ được ấn tượng cậu
    là đứa trẻ mồ côi đi ở đợ. Nay cho sánh duyên với con gái
    thầy đồ họ Hoàng thì không môn đăng hộ đối.
    18

    Phần I: ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC

    Phải qua thời gian để minh định và thuyết phục, năm
    1883, ông bà họ Hoàng đã đứng ra tổ chức lễ cưới và dựng
    cho đôi vợ chồng trẻ chỗ ở riêng ngay trong vườn nhà. Đó là
    căn nhà tranh ba gian ở làng Hoàng Trù quê ngoại.
    Năm 1884 ông bà sinh con gái đầu lòng đặt tên là
    Nguyễn Thị Thanh. Sau này trong hoạt động chống Pháp,
    đồng đội gọi bà là cô Bạch Liên. Bà là một chiến sĩ kiên
    trung, bất khuất mà kẻ thù rất nể sợ.
    Năm 1888, người con thứ hai ra đời, mang tên là
    Nguyễn Sinh Khiêm, sau đổi là Nguyễn Tất Đạt, cũng là
    một chiến sĩ yêu nước bị thực dân và Nam Triều nhiều lần
    bỏ tù, phát vãng đến quản thúc.
    Năm 1890 Nguyễn Sinh Cung chào đời. Đó là Nguyễn
    Tất Thành, là Nguyễn Ái Quốc, là Chủ tịch Hồ Chí Minh
    của chúng ta.
    *
    *

    *

    Sống trong cảnh túng thiếu, nhìn vợ tất bật với hoàn
    cảnh khó khăn, nhiều lúc Nguyễn Sinh Sắc muốn lui về
    cày ruộng, chung sức cùng vợ nuôi con nhưng mọi
    người đều không chịu. Họ hàng nội ngoại nhà bà
    Hoàng Thị Loan đều ủy thác ông phải đeo đuổi học tập.
    Đến năm 1894 ông đậu Cử nhân trong khoa thi Hương
    Giáp Ngọ. Ông chỉ ân hận là đã không đỗ đạt sớm hơn
    để kịp báo hiếu công ơn cụ Hoàng Đường đã nuôi dạy
    mình từ tuổi lên năm. Cụ đã mất ngày 7 tháng 4 năm
    19

    ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC

    Quý Tỵ (1893), do vậy, niềm vui của ông không trọn
    vẹn. Sau buổi ra mắt quan tổng đốc An Tịnh, ông đã
    tránh không dự buổi tiệc thịnh soạn đàn ca thâu đêm do
    quan tổng đốc khao các vị tân khoa mà lui về nghỉ tại
    nhà người bà con cụ Hoàng Đường sống tại tỉnh lỵ.
    Sáng hôm sau tân khoa Nguyễn Sinh Sắc cắp mũ áo cử
    nhân, đội dù, cuốc bộ về quê, không khoa trương danh
    vị, cũng không tổ chức hội mừng mà chỉ làm lễ bái yết ở
    nhà thờ, làm bà mẹ vợ bán tín bán nghi về chuyện ông
    thi đỗ. Hàng xã thì tấm tắc khen ông cử tài cao mà
    khiêm tốn, giản dị.
    Năm 1895, ông vào Huế dự kỳ thi Hội nhưng không
    đậu. Để tiếp tục học ở Quốc Tử Giám, ông bàn với bà
    Hoàng Thị Loan thu xếp cùng vào. Bà đã gửi con gái đầu
    lòng ở lại với bà ngoại Hoàng Thị Kép, đưa hai con trai
    theo chồng vào Huế. Tại đây gia đình ông cử nhân nghèo
    xứ Nghệ sống quá túng thiếu. Cứ hết buổi đi học ông lại
    cắp dù đi dạy kèm con cái nhà khá giả. Bà miệt mài với cái
    khung cửi, lấy công làm lãi nuôi chồng con. Như bao
    nhiêu ông đồ Nghệ khác, họ phải chịu đựng với cảnh
    nghèo, nai lưng ra lao động ngày đêm để giữ lấy nếp
    thanh khiết, nho nhã.
    Cuộc sống lo toan, vất vả nhanh chóng làm bà Hoàng
    Thị Loan kiệt sức. Sau khi sinh con thứ tư, bà đau ốm liên
    miên, lại là đúng vào thời kỳ ông Sinh Sắc đi chấm thi ở
    trường thi Thanh Hóa rồi ghé về quê lo phần mộ cho bố
    mẹ. Thấy gia đình quá khó khăn, ông mang Sinh Khiêm
    20

    Phần I: ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC

    theo. Ở nhà bà Loan đã từ giã cõi đời vừa lúc bước sang
    tuổi ba mươi ba. Bà con láng giềng ở thành Nội đã mai
    táng bà ở chân núi Ba Tầng thuộc dãy Ngự Bình. Còn lại
    Sinh Cung lo bế ẵm em trai và sống qua ngày trong sự
    thương yêu đùm bọc của hàng xóm.
    Giữa Tết Tân Sửu (1901) đang ở Hoàng Trù, nhận
    được tin dữ, ông Sắc vô cùng đau đớn vội vàng một mình
    vào Huế. Sau những ngày đau buồn vĩnh biệt người vợ
    thân yêu, ông đưa hai anh em Sinh Cung về quê để nhờ
    bên ngoại trông nom giúp rồi trở lại Huế cho kịp kỳ thi
    Hội khoa Tân Sửu (1901). Khoa này ông đậu Phó bảng.
    Kể từ khoa Tân Sửu, người đậu Phó bảng bắt đầu
    được hưởng hai đặc ân của chính bảng: được vua ban cờ
    biển và cho vinh quy bái tổ. Trong lễ xướng danh, ông
    Nguyễn Sinh Sắc được vua Thành Thái tặng biển "Ân Tứ
    Ninh Gia" (Ơn ban cho gia đình tốt) và cấp phương tiện
    đưa về đến tỉnh lỵ An Tịnh (Vinh). Tổng đốc An Tịnh lúc
    đó là Đào Tấn đã ra lệnh cho lý trưởng các làng thuộc xã
    Chung Cự đưa võng lọng cờ trống lên rước ông Phó bảng.
    Đây là vinh dự cực kỳ lớn với nho sinh thành đạt, trong
    thiên hạ ai không ham.
    Nhưng ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - như ngày
    nào đậu cử nhân, sau buổi lễ ra mắt Tổng đốc địa hạt, ông
    lại tự đi bộ về làng. Về cách Hoàng Trù bốn cây số, gặp
    dân xã đang náo nức kéo nhau đi rước ông. Mọi người vội
    trống giong cờ mở, giăng võng mời ông nằm lên cho làng
    rước. Ông từ tốn thưa: "Thưa bà con, tôi chưa làm được gì
    21

    ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC

    cho làng cả, sao dám phiền bà con đón rước!". Dù bà con
    năn nỉ, ông một mực từ chối. Cuối cùng cả đoàn cùng đi
    bộ theo ông Phó bảng trở về làng. Ông ghé về quê ngoại
    làm lễ tạ ơn rồi mới sang chào làng bên nội.
    Đây cũng là lần đầu tiên Kim Liên có người đỗ đại
    khoa. Tục lệ ngày đó đã đỗ đại khoa mà đi ở rể là không
    được. Dân làng mới cắt một miếng đất năm sào Trung Bộ,
    dựng hàng rào và trích tiền công của làng mua một ngôi
    nhà tranh bên Xuân La. Dân làng cùng nhau khiêng về
    dựng làm chỗ ở cho ông Phó bảng. Bố con ông quay về
    quê nội, sống trong căn nhà lá ba gian đó.
    Ngôi nhà này không còn giữ được đến ngày nước nhà
    độc lập, sau này đã được chuộc lại và đem về dựng trên
    nền nhà cũ, theo khuôn mẫu ngôi nhà xưa. Hôm về thăm
    làng Sen lần đầu (1957), Bác đã phát hiện ra lối vào nhà đã
    mở sai hướng, Bác đã chỉ cho những người cùng đi:
    - Lối đi ngày trước ở bên này! Xưa cha tôi trồng một
    bên là hàng cây mạn hảo, một bên là hàng cây râm bụt.
    Sau đó, địa phương đã mở lại cổng, làm lại hàng rào
    và lối đi hiện nay đã đúng như sự hướng dẫn của Bác.
    Gian đầu có bàn thờ với biển phong tặng "Ân Tứ Ninh
    Gia" của nhà vua khi ông Nguyễn Sinh Sắc đậu Phó bảng
    và lá cờ của dân làng tặng, đề bốn chữ "Phó bảng Phát
    Khoa". Sau khi cụ Sinh Sắc qua đời, dòng họ Nguyễn Sinh
    đưa lá cờ này vào nhà thờ họ. Năm 1957 Bác về thăm quê
    có ghé vào nhà thờ, Bác vui mừng nói:
    22

    Phần I: ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC

    - Lá cờ làng tặng cha tôi vẫn còn! Các ông giữ tài thật.
    Bác vào gian cuối gần bếp - ở đây đặt một bộ ván bốn
    tấm ghép lại. Chiếc bàn con kê sát cửa sổ và chiếc võng
    đay đã cũ treo chéo hai cột. Cái sập đựng lúa và tủ chè kê
    sát vách. Cây cột gần đó có treo cây đèn đĩa. Sát đấy là cái
    án thư bằng tre. Nhìn bộ ván, Bác bảo:
    - So với trước, bộ ván này bị cưa ngắn đi rồi.
    Hai lần về thăm quê, lần nào Bác cũng lẳng lặng đi lên
    đi xuống ba gian nhà lá. Quá khứ, những kỷ niệm thân
    thương đang làm Bác bồn chồn. Những người có mặt lúc
    đó cũng chìm lắng trong tâm trạng của Bác. Kỷ vật như
    thiêng liêng hơn. Tất cả không còn là tre, là gỗ, là vật
    dụng mà là bóng dáng của cả một gia đình, mọi cái thấm
    đượm tâm hồn, tình cảm gắn bó ruột thịt với Bác, làm xúc
    động lòng người.
    Bác đó, ông già giản dị như mọi người già, gần gũi
    như mọi bậc ông, bậc cha, thân mật chuyện trò việc làng
    việc nước, những nỗi quan tâm của mọi gia đình. Vị Chủ
    tịch nước đã hóa thân thành một người làng thân thiết của
    cả già, trẻ, gái, trai.
    Bác đó, đang nhắc lại từng kỷ niệm thời thơ ấu với
    bạn bè.
    Bác đó, niềm tin, lòng hy vọng của mỗi người, của
    mọi người, của bạn bè gần xa. Bằng giọng làng Sen thân
    thuộc, Bác nói:
    - Tôi xa quê hương, xa các cụ, các mẹ, các chú như vậy là
    đã năm mư
     
    Gửi ý kiến